BÀI DỰ THI GIẢI BÁO CHÍ VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG (GIẢI BÚA LIỀM VÀNG) THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG NĂM 2026

Thông tin về tác giả/nhóm tác giả

- Tên tác giả:          NGUYỄN THỊ HẢI YẾN

- Chức danh:          Giáo viên

- Đơn vị công tác: Trường THCS Huỳnh Thúc Kháng

“Đổi mới giáo dục - từ nghị quyết đến lớp học”

(Dưới góc nhìn của một Đảng viên - Giáo viên)

Nghị quyết 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Vậy nghị quyết ấy sẽ tạo ra thay đổi như thế nào khi đi qua cánh cổng nhà trường và bước vào từng lớp học.

          Screenshot 2026 10 02 182749

                              Học sinh thảo luận nhóm - tự tin trình bày trước lớp.

Hình ảnh trên đã trở nên quen thuộc - một tiết học bắt đầu. Thay vì những dòng chữ được chép ngay ngắn trên bảng, học sinh chia thành các nhóm, thảo luận, tìm kiếm thông tin, trình bày ý tưởng. Người thầy không còn chỉ đứng trên bục giảng truyền đạt kiến thức mà trở thành người tổ chức, hướng dẫn và khơi gợi tư duy.

Những thay đổi ấy bắt nguồn từ đâu?

Từ các chủ trương của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục; từ Nghị quyết 71-NQ/TW; từ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025–2030 và chương trình hành động cụ thể hóa các nghị quyết. Đảng bộ Sở GD&ĐT thành phố Đà Nẵng nhiệm kỳ 2025–2030 xác định tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo toàn diện đối với ngành giáo dục, trong đó nhấn mạnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên. Vậy ngành giáo dục đã triển khai và cụ thể hóa chủ trương đó như thế nào? Chi ủy, chi bộ trường học đóng vai trò gì? Hiệu trưởng, giáo viên chuyển hóa chủ trương thành việc làm cụ thể thế nào?

Là một đảng viên- giáo viên, tôi vô cùng tâm huyết với những điều thực tế lãnh đạo các cấp của thành phố Đà Nẵng đã triển khai thực hiện đến các cơ sở. Đặc biệt, vai trò lãnh đạo của Chi bộ nhà trường có tác động trực tiếp một cách mạnh mẽ đến giáo viên đứng lớp trong nhà trường. Dưới góc nhìn của một đảng viên, giáo viên- tôi vô cùng tâm huyết với những nhóm nhiệm vụ và giải pháp đã, đang và sẽ đi vào thực tế một cách rõ nét, thiết thực:

Thứ nhất: Nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy và hành động- Từ quyết tâm chính trị đến chuyển biến trong từng nhà trường.

Đổi mới giáo dục trước hết phải đổi mới tư duy về giáo dục. Đây không chỉ là sự thay đổi trong cách nhìn nhận một lĩnh vực công tác, mà là sự chuyển biến có tính nền tảng trong tư duy lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện. Giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội; là nơi trực tiếp tạo dựng con người, bồi dưỡng nhân tài và hình thành nguồn nhân lực cho tương lai. Vì vậy, đầu tư cho giáo dục không đơn thuần là đầu tư cho một ngành, một lĩnh vực, mà là đầu tư cho sức mạnh nội sinh và năng lực phát triển lâu dài của đất nước.

Từ nhận thức đó, yêu cầu đầu tiên đặt ra là phải tạo dựng quyết tâm chính trị mạnh mẽ ở các cấp ủy, chính quyền. Quyết tâm ấy không thể chỉ thể hiện trong nghị quyết, kế hoạch hay những con số, mà phải được đo bằng khả năng giải quyết những vấn đề thực tiễn của nhà trường; bằng việc tháo gỡ điểm nghẽn về cơ chế, đội ngũ, cơ sở vật chất; bằng sự đồng hành thực chất với giáo viên và học sinh. Nói cách khác, chủ trương chỉ thực sự có sức sống khi được chuyển hóa thành hành động và tạo ra kết quả có thể nhìn thấy trong đời sống giáo dục.

Đổi mới tư duy: từ “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”

Một trong những yêu cầu có tính đột phá là chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo phát triển và quản lý hiện đại. Trong mô hình quản lý nặng về hành chính, cơ sở giáo dục dễ bị cuốn vào việc hoàn thành quy trình, hồ sơ và báo cáo. Trong khi đó, thực tế đặt câu hỏi căn bản hơn: Nhà trường có thực sự được tạo điều kiện để đổi mới hay không? Giáo viên có đủ không gian sáng tạo hay không? Người đứng đầu có đủ thẩm quyền để chịu trách nhiệm hay không? Và cuối cùng, chất lượng, cơ hội phát triển của người học có thực sự được nâng lên hay không?

Chuyển từ “quản lý” sang “kiến tạo” vì thế không có nghĩa là buông lỏng quản lý. Ngược lại, đó là quản lý bằng mục tiêu, bằng dữ liệu, bằng trách nhiệm giải trình và bằng hiệu quả thực chất. Cơ quan quản lý nhà nước cần giảm những thủ tục hành chính không cần thiết, tăng cường phân cấp, phân quyền, hướng dẫn và hỗ trợ cơ sở. Nhà trường được trao quyền chủ động hơn phải đồng thời chịu trách nhiệm rõ ràng hơn. Người đứng đầu được giao quyền phải gắn quyền hạn với trách nhiệm giải trình về chất lượng giáo dục, đội ngũ, môi trường học tập và việc sử dụng nguồn lực.

Đây chính là điểm chuyển từ tư duy “làm đúng quy trình” sang “làm đúng mục tiêu và tạo ra kết quả”. Khi hiệu quả giáo dục trở thành thước đo quan trọng, mỗi quyết định quản lý sẽ phải trả lời câu hỏi: quyết định đó tạo thêm giá trị gì cho người học, cho giáo viên và cho nhà trường?

Đổi mới phương thức lãnh đạo: tinh gọn để rõ trách nhiệm, thống nhất để nâng cao hiệu quả

Cùng với đổi mới tư duy là yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo trong các cơ sở giáo dục công lập. Chủ trương không tổ chức hội đồng trường tại các cơ sở giáo dục công lập, trừ trường có thỏa thuận quốc tế, đồng thời triển khai mô hình bí thư cấp ủy kiêm người đứng đầu cơ sở giáo dục, đặt ra yêu cầu xây dựng một phương thức lãnh đạo thống nhất, tinh gọn và rõ trách nhiệm.

Giá trị của tinh gọn được thể hiện ở việc giảm tầng nấc trung gian, hạn chế chồng chéo, rút ngắn quá trình ra quyết định và quan trọng nhất là xác định rõ “ai quyết định, ai thực hiện, ai chịu trách nhiệm và ai giám sát”. Nếu bộ máy được tinh gọn nhưng trách nhiệm vẫn không rõ, hiệu quả quản lý khó được nâng lên. Ngược lại, khi quyền hạn và trách nhiệm được xác định minh bạch, người đứng đầu có điều kiện hành động quyết đoán hơn, đồng thời cũng phải chịu trách nhiệm cao hơn trước tập thể và cấp có thẩm quyền.

Bởi vậy, triển khai mô hình mới cần đi liền với quy chế phối hợp rõ ràng, cơ chế kiểm tra, giám sát, công khai và trách nhiệm giải trình. Sự thống nhất trong lãnh đạo phải song hành với dân chủ trong nhà trường; vai trò của người đứng đầu phải gắn với việc phát huy trí tuệ tập thể; quyết định quản lý phải dựa trên cơ sở pháp lý, dữ liệu và chuyên môn. Đây là điều kiện quan trọng để đổi mới tổ chức không chỉ dừng ở thay đổi cơ cấu, mà thực sự tạo ra thay đổi trong phương thức vận hành.

Biến chủ trương thành hành động: bắt đầu từ những việc cụ thể.

Một chủ trương dù đúng đến đâu cũng không thể tự mình tạo ra kết quả. Khoảng cách giữa nghị quyết và cuộc sống chỉ được thu hẹp bằng hành động cụ thể. Vì vậy, cấp ủy, chính quyền và cơ sở giáo dục cần chuyển các mục tiêu đổi mới thành những chương trình có thời hạn, có người chịu trách nhiệm và có tiêu chí đánh giá.

Trước hết, xây dựng kế hoạch nhà trường theo từng năm học; xác định rõ những việc cần làm, nguồn lực cần thiết và kết quả cần đạt. Định kỳ tổ chức đối thoại với giáo viên, học sinh và cha mẹ học sinh để phát hiện những điểm nghẽn từ thực tiễn. Những thủ tục không tạo ra giá trị trực tiếp cho hoạt động dạy và học cần được rà soát, đơn giản hóa. Ứng dụng công nghệ số cần hướng tới giảm áp lực hành chính, tăng khả năng phân tích dữ liệu và hỗ trợ ra quyết định, thay vì tạo thêm những tầng nấc báo cáo mới.

Quan trọng hơn, cần xây dựng văn hóa trách nhiệm trong nhà trường. Mỗi cán bộ quản lý phải hiểu rõ phạm vi trách nhiệm của mình; mỗi giáo viên phải được tạo điều kiện phát huy chuyên môn; mỗi tổ chuyên môn phải trở thành một không gian hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm; mỗi học sinh phải được coi là chủ thể của quá trình học tập. Khi trách nhiệm được xác định rõ và quyền chủ động được mở rộng, đổi mới sẽ không còn phụ thuộc hoàn toàn vào một vài cá nhân, mà trở thành năng lực chung của cả tổ chức.

Nhà giáo là trung tâm của quá trình chuyển đổi.

Nếu thể chế là “khung”, quản lý là “cách vận hành”, thì nhà giáo chính là lực lượng trực tiếp biến đổi mới thành hiện thực trong từng lớp học. Không có một nền giáo dục chất lượng cao nếu thiếu đội ngũ giáo viên có năng lực, tâm huyết và khả năng thích ứng.

Do đó, đổi mới giáo dục phải đi cùng với đổi mới chính sách và cách thức phát triển đội ngũ. Bồi dưỡng giáo viên cần chuyển từ nặng về hình thức sang chú trọng nhu cầu thực tế; tăng cường năng lực số, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá, giáo dục kỹ năng và khả năng thích ứng với những thay đổi của xã hội. Đánh giá giáo viên cần hướng tới thực chất, ghi nhận sự tiến bộ, hiệu quả và những đóng góp cụ thể đối với học sinh và nhà trường.

  Screenshot 2026 10 02 182831

                               Hình ảnh tiết học cô trò ứng dụng công nghệ.

Đặc biệt, phải xây dựng một môi trường mà ở đó giáo viên dám đổi mới, được hỗ trợ khi đổi mới và được ghi nhận khi đổi mới có hiệu quả. Nếu mọi sáng kiến đều đứng trước tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm thì rất khó hình thành động lực sáng tạo. Vì vậy, quản trị hiện đại không chỉ quản lý con người mà còn phải tạo ra môi trường để con người phát triển.

Từ học tập trong nhà trường đến học tập suốt đời

Đổi mới giáo dục cũng không thể chỉ giới hạn trong phạm vi trường học. Trong thời đại tri thức và công nghệ thay đổi nhanh chóng, học tập suốt đời phải trở thành một năng lực của mỗi công dân. Nhà trường cần hình thành văn hóa đọc, văn hóa tự học, năng lực tìm kiếm và đánh giá thông tin, khả năng học tập trên nền tảng số. Giáo viên phải là người học thường xuyên; học sinh phải được hình thành thói quen tự học; gia đình và cộng đồng phải trở thành những môi trường hỗ trợ việc học.

Một xã hội học tập không chỉ được tạo nên bởi số lượng trường lớp, mà còn bởi khả năng mỗi người tự làm mới tri thức và năng lực của chính mình. Đây cũng là cách giáo dục chuẩn bị cho con người khả năng thích ứng trước những biến đổi khó dự đoán của tương lai.

Đổi mới bắt đầu từ tư duy, nhưng được chứng minh bằng hành động.

Suy cho cùng, đổi mới giáo dục không thể chỉ được đo bằng số lượng văn bản được ban hành hay số mô hình được triển khai. Thước đo quan trọng nhất phải là sự thay đổi trong thực tiễn: quản lý có hiệu quả hơn không, giáo viên có điều kiện cống hiến tốt hơn không, nhà trường có chủ động và sáng tạo hơn không, và người học có thực sự được hưởng lợi từ những đổi mới ấy hay không.

Bởi vậy, đổi mới nhận thức phải dẫn tới đổi mới tư duy; đổi mới tư duy phải dẫn tới đổi mới thể chế và quản trị; đổi mới quản trị phải dẫn tới những thay đổi cụ thể trong từng nhà trường, từng lớp học và từng người học. Đó là con đường biến quyết tâm chính trị thành năng lực phát triển.

Giáo dục muốn đi xa phải bắt đầu từ một tư duy mới: không chỉ quản lý những gì đang có, mà phải kiến tạo những điều kiện tốt hơn cho tương lai; không chỉ giải quyết công việc trước mắt, mà phải tạo dựng năng lực phát triển lâu dài; không chỉ yêu cầu nhà trường đổi mới, mà chính phương thức lãnh đạo và quản trị cũng phải đổi mới. Khi tư duy đã chuyển, hành động sẽ chuyển. Khi hành động được tổ chức khoa học, kết quả sẽ được kiểm chứng. Và khi những chuyển biến ấy lan tỏa từ mỗi nhà trường, mỗi người thầy, mỗi người học, đổi mới giáo dục sẽ không còn là một khẩu hiệu, mà trở thành một động lực thực sự cho phát triển con người và phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Thứ hai: Tăng cường giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ - Xây dựng con người Việt Nam trong thời đại mới.

Giáo dục trước hết là giáo dục con người. Một nền giáo dục chỉ chú trọng truyền thụ kiến thức mà xem nhẹ đạo đức, thể chất, thẩm mỹ và trách nhiệm xã hội sẽ khó đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời đại mới. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và sự giao thoa ngày càng sâu rộng giữa các nền văn hóa, giáo dục càng phải thực hiện tốt sứ mệnh hình thành những con người không chỉ có tri thức, có năng lực, mà còn có lý tưởng, có nhân cách, có sức khỏe, có thẩm mỹ và có trách nhiệm với cộng đồng, Tổ quốc. Vì vậy, tăng cường giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ không phải là yêu cầu bổ trợ, mà là nền tảng để xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện.

  Screenshot 2026 10 02 182909

   Hình ảnh “sân khấu hoá” cuộc đời và sự nghiệp của cụ Huỳnh Thúc Kháng.

Trước hết, cần chú trọng giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, lòng tự hào dân tộc và trách nhiệm xã hội. Trong điều kiện thông tin đa chiều, mạng xã hội phát triển mạnh, người trẻ có nhiều cơ hội tiếp cận tri thức nhưng cũng đứng trước không ít tác động phức tạp về giá trị và lối sống. Nếu thiếu nền tảng đạo đức và khả năng phân biệt đúng – sai, thật – giả, lợi ích cá nhân – lợi ích cộng đồng, người học dễ bị chi phối bởi những giá trị lệch lạc. Bởi vậy, giáo dục lý tưởng không thể chỉ dừng ở những bài học lý thuyết, mà phải được chuyển hóa thành niềm tin, thái độ và hành vi cụ thể. Lòng yêu nước cần được nuôi dưỡng từ những việc gần gũi: biết trân trọng lịch sử, giữ gìn tiếng Việt, tôn trọng truyền thống văn hóa, có ý thức bảo vệ môi trường, tuân thủ pháp luật, sống nhân ái và biết đóng góp cho cộng đồng.

Điều quan trọng là phải đổi mới phương pháp giáo dục đạo đức. Giá trị không thể hình thành chỉ bằng việc yêu cầu học sinh ghi nhớ những chuẩn mực; giá trị phải được trải nghiệm và thực hành trong đời sống. Nhà trường cần tăng cường các hoạt động trải nghiệm, giáo dục kỹ năng sống, hoạt động cộng đồng, hoạt động tình nguyện, giáo dục truyền thống và các dự án học tập gắn với những vấn đề thực tiễn. Mỗi hành động đẹp của học sinh, mỗi việc tốt trong lớp học, mỗi trách nhiệm được hoàn thành đều có thể trở thành một “bài học sống” về nhân cách. Đồng thời, giáo viên phải là tấm gương về đạo đức nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm và văn hóa ứng xử; gia đình phải đồng hành với nhà trường trong việc hình thành nhân cách cho trẻ.

Song song với giáo dục đạo đức là đổi mới nội dung giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực. Kiến thức vẫn là nền tảng, nhưng mục tiêu cuối cùng không phải là người học “biết bao nhiêu”, mà là có thể làm gì với những điều đã học và sử dụng tri thức như thế nào để giải quyết những vấn đề của cuộc sống. Vì vậy, giáo dục cần chú trọng năng lực tự học, tư duy phản biện, sáng tạo, giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề, năng lực số và khả năng thích ứng. Đây chính là bước chuyển từ giáo dục thiên về truyền thụ sang giáo dục phát triển con người chủ động, sáng tạo và có khả năng học tập suốt đời.

Trong quá trình ấy, cần từng bước hình thành hệ giá trị cốt lõi của con người Việt Nam trong thời đại mới. Đó phải là sự kết hợp hài hòa giữa những giá trị truyền thống và những phẩm chất cần thiết của công dân hiện đại: yêu nước nhưng cởi mở với thế giới; nhân ái nhưng có nguyên tắc; trung thực, trách nhiệm nhưng cũng chủ động, sáng tạo; tôn trọng truyền thống nhưng sẵn sàng tiếp nhận cái mới; có bản lĩnh văn hóa nhưng có năng lực hội nhập. Giá trị dân tộc không đối lập với hiện đại; ngược lại, chính nền tảng văn hóa và đạo đức vững chắc giúp mỗi người hội nhập mà không hòa tan.

Để giáo dục toàn diện đi vào thực chất, cần đổi mới cách đánh giá người học. Không thể đánh giá sự phát triển của một học sinh chỉ qua điểm số các môn học. Cần quan tâm cả quá trình rèn luyện, khả năng vận dụng kiến thức, tinh thần hợp tác, ý thức trách nhiệm, sức khỏe, năng khiếu và khả năng sáng tạo. Nhà trường cần tạo không gian cho thể thao, nghệ thuật, văn hóa đọc, hoạt động trải nghiệm và nghiên cứu khoa học; để mỗi học sinh có cơ hội phát hiện điểm mạnh, hình thành sự tự tin và phát triển hài hòa.

Một nền giáo dục tốt không chỉ tạo ra những người học giỏi, mà phải góp phần tạo ra những con người tốt, có năng lực và có trách nhiệm. Đức là nền tảng để định hướng trí tuệ; trí là sức mạnh để hành động; thể là điều kiện để cống hiến; mỹ làm phong phú tâm hồn và nâng cao chất lượng đời sống. Khi bốn mặt ấy được kết hợp hài hòa, giáo dục mới thực sự thực hiện được sứ mệnh xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện – những công dân có lý tưởng, tri thức, sức khỏe, bản lĩnh văn hóa, năng lực sáng tạo và tinh thần trách nhiệm, sẵn sàng đóng góp vào sự phát triển của quê hương, đất nước trong thời đại mới.

Thứ ba: Chuyển đổi số toàn diện, phổ cập công nghệ và trí tuệ nhân tạo (AI)

Chuyển đổi số toàn diện, phổ cập và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo là một trong những định hướng có tính đột phá được Bộ Chính trị xác định tại Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Đây không đơn thuần là việc đưa máy tính, phần mềm hay trí tuệ nhân tạo vào lớp học, mà là quá trình thay đổi căn bản phương thức quản lý, dạy học, kiểm tra đánh giá và tổ chức hoạt động giáo dục trên nền tảng dữ liệu và công nghệ. Nghị quyết 71-NQ/TW đặt yêu cầu xây dựng chiến lược dữ liệu phục vụ chuyển đổi số, phát triển nền tảng giáo dục quốc gia ứng dụng AI có kiểm soát, đầu tư hạ tầng công nghệ, đồng thời thúc đẩy mô hình giáo dục số, trường học số, lớp học thông minh và quản trị giáo dục thông minh ở tất cả các cấp học. Điều đó cho thấy chuyển đổi số đã được nhìn nhận không còn là một lựa chọn mang tính thử nghiệm, mà trở thành một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển giáo dục trong thời đại mới. Thực tiễn đặt ra một yêu cầu rất rõ: nếu giáo dục vẫn vận hành chủ yếu theo phương thức truyền thống trong khi người học đang sống trong môi trường số thì sẽ ngày càng xuất hiện khoảng cách giữa nhà trường và đời sống. Vì vậy, công nghệ phải được sử dụng để mở rộng không gian học tập, cá thể hóa quá trình giáo dục, tăng khả năng tiếp cận tri thức và tạo điều kiện để người học phát triển năng lực tự học, sáng tạo, hợp tác và giải quyết vấn đề. Với giáo viên, chuyển đổi số mở ra khả năng khai thác kho học liệu điện tử, thiết kế bài giảng trực quan, sử dụng dữ liệu để theo dõi tiến bộ của học sinh, đa dạng hóa hình thức kiểm tra đánh giá và dành nhiều thời gian hơn cho việc hướng dẫn, hỗ trợ từng người học. Với học sinh, công nghệ số và AI có thể trở thành “trợ lý học tập” giúp tìm kiếm, phân tích, hệ thống hóa và mở rộng kiến thức; đồng thời tạo ra những môi trường học tập mô phỏng, tương tác và giàu trải nghiệm. Nghị quyết 71-NQ/TW cũng yêu cầu nâng cao chuẩn năng lực số và trí tuệ nhân tạo cho người học và đội ngũ nhà giáo ở tất cả các cấp học, đưa những năng lực này vào chương trình giáo dục gắn với hoạt động sáng tạo, trải nghiệm. Đây là điểm đặc biệt quan trọng, bởi trong kỷ nguyên AI, biết sử dụng công nghệ chưa đủ; người học cần biết đặt câu hỏi, kiểm chứng thông tin, nhận diện sai lệch, bảo vệ dữ liệu cá nhân, tôn trọng bản quyền và sử dụng AI có trách nhiệm. Nhà trường vì thế phải chuyển từ mục tiêu “dạy học sinh sử dụng công cụ” sang hình thành năng lực số và văn hóa số. Tuy nhiên, công nghệ dù hiện đại đến đâu cũng không thể thay thế bản chất nhân văn của giáo dục. Một hệ thống AI có thể cung cấp câu trả lời nhanh, nhưng không thể thay người thầy trong việc truyền cảm hứng, hình thành nhân cách, nuôi dưỡng tình yêu thương và định hướng giá trị sống cho học sinh. Vì vậy, chuyển đổi số phải lấy người học làm trung tâm, nhà giáo làm chủ thể chuyên môn và công nghệ là công cụ hỗ trợ. Đây cũng là yêu cầu để tránh hai thái cực: hoặc e ngại, né tránh AI, hoặc lệ thuộc vào AI đến mức làm suy giảm năng lực tư duy độc lập của người học. Trong thực tế hiện nay, nhiều trường học đã từng bước sử dụng hệ thống quản lý học tập, hồ sơ điện tử, học liệu số, các nền tảng kiểm tra trực tuyến, phần mềm hỗ trợ thiết kế bài giảng và các công cụ AI trong dạy học. Những chuyển biến đó đang góp phần hình thành một phương thức giáo dục linh hoạt hơn, mở hơn và cá thể hóa hơn. Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra những thách thức về hạ tầng, chênh lệch điều kiện tiếp cận công nghệ, năng lực số của giáo viên, an toàn dữ liệu, bản quyền học liệu và nguy cơ học sinh sử dụng AI để sao chép, đối phó thay vì học tập thực chất. Vì vậy, chuyển đổi số giáo dục phải đi cùng với đầu tư hạ tầng, chuẩn hóa dữ liệu, bồi dưỡng đội ngũ, hoàn thiện quy định quản lý và xây dựng đạo đức sử dụng AI. Đặc biệt, cần bảo đảm công nghệ không tạo thêm khoảng cách giữa các vùng miền, mà phải trở thành công cụ mở rộng cơ hội học tập bình đẳng cho mọi học sinh. Có thể khẳng định, chuyển đổi số và ứng dụng AI đang mở ra một không gian phát triển mới cho giáo dục Việt Nam. Thành công của quá trình này không được đo bằng số lượng thiết bị hay phần mềm được đưa vào trường học, mà phải được đo bằng chất lượng thực của việc dạy và học, sự tiến bộ của người học và khả năng hình thành những công dân có năng lực số, tư duy sáng tạo, bản lĩnh, trách nhiệm trong xã hội số. Khi công nghệ được đặt đúng vị trí và được dẫn dắt bởi những giá trị nhân văn, chuyển đổi số sẽ không chỉ làm cho giáo dục “hiện đại hơn”, mà sâu xa hơn, sẽ góp phần tạo nên một nền giáo dục mở, thông minh, công bằng, nhân văn và thích ứng với tương lai, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

 Screenshot 2026 10 02 183000

Hình ảnh ngày hội Thanh Khê số - Kết nối tương lai.

Chuyển đổi số không phải là số hóa cách dạy cũ; đó phải là đổi mới cách nghĩ, cách dạy, cách học và cách quản lý giáo dục trên nền tảng công nghệ, nhưng luôn lấy con người làm trung tâm.

Từ Nghị quyết đến các chương trình hành động, đến vai trò trách nhiệm của các cấp lãnh đạo, của chi bộ nhà trường, của mỗi người giáo viên sẽ tạo niềm tin của học sinh, phụ huynh và toàn xã hội.


BÀI DỰ THI GIẢI BÁO CHÍ VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG (GIẢI BÚA LIỀM VÀNG) THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG NĂM 2026

Thông tin về tác giả/nhóm tác giả

- Tên tác giả:          NGUYỄN THỊ LIÊN

- Chức danh:          Giáo viên

- Đơn vị công tác: Trường THCS Huỳnh Thúc Kháng

TỪ NGHỊ QUYẾT ĐẾN LỚP HỌC

Dấu ấn từ Chi bộ Trường THCS Huỳnh Thúc Kháng

Ở trường học, sức sống của nghị quyết không chỉ được thể hiện qua những buổi học tập, quán triệt mà còn phải được nhìn thấy trong từng lớp học, trong sự đổi mới của người thầy và sự trưởng thành của học sinh. Tại Trường THCS Huỳnh Thúc Kháng, phường Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Chi bộ với 61 đảng viên đang từng bước phát huy vai trò hạt nhân chính trị, gắn công tác xây dựng Đảng với nhiệm vụ giáo dục.

Để nghị quyết đi vào thực tiễn

Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030, yêu cầu đặt ra với tổ chức Đảng ở cơ sở không chỉ là học tập, quán triệt mà quan trọng hơn là đưa chủ trương vào thực tiễn. Với trường học, thực tiễn ấy chính là chất lượng giáo dục và sự trưởng thành của học sinh.

Chi bộ Trường THCS Huỳnh Thúc Kháng hiện có 61 đảng viên, do cô giáo Nguyễn Thị Ngọc Anh - Bí thư Chi bộ, Hiệu trưởng nhà trường - đứng đầu. Ở môi trường giáo dục, tính tiên phong của đảng viên được thể hiện trước hết bằng trách nhiệm với công việc: đổi mới bài giảng, nâng cao chất lượng chuyên môn, tạo cơ hội cho học sinh sáng tạo và quan tâm đến những em còn khó khăn.

 Screenshot 2026 10 02 170909

Giữ truyền thống để bồi đắp con người

Mang tên nhà chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng, nhà trường đưa câu chuyện về cuộc đời, sự nghiệp của cụ vào tiết học, hoạt động trải nghiệm và sinh hoạt dưới cờ. Cuối tháng 9-2026, học sinh lớp 7/10 hào hứng tham gia “Rung chuông vàng” sau khi tìm hiểu về cụ Huỳnh. Trong môn Ngữ văn lớp 9, giáo viên còn thiết kế phiếu học tập dưới hình thức một trang báo, gợi nhắc dấu ấn của cụ với báo Tiếng Dân.

Ngày 28-9-2026, cán bộ, giáo viên và học sinh nhà trường tổ chức chương trình kỷ niệm 150 năm ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng, với hoạt cảnh tái hiện cuộc đời nhà chí sĩ, lễ dâng hương, văn nghệ và trưng bày poster. Theo Hiệu trưởng Nguyễn Thị Ngọc Anh, Chi bộ dự kiến tổ chức sinh hoạt chuyên đề tại Nhà lưu niệm Huỳnh Thúc Kháng trong tháng 10-2026. Từ sinh hoạt Chi bộ đến lớp học, mạch giáo dục truyền thống được nối liền bằng những hoạt động gần gũi, giúp học sinh hiểu lịch sử để biết trân trọng và tiếp nối.

Học sinh tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp cụ Huỳnh Thúc Kháng trong tiết Hoạt động trải nghiệm - Nguồn: Báo Đà Nẵng, 29-9-2026

Khơi dậy tinh thần đổi mới, sáng tạo

Song song với giáo dục truyền thống, nhà trường chú trọng tạo môi trường để giáo viên và học sinh đổi mới, sáng tạo. Trường duy trì Câu lạc bộ “Em yêu khoa học”, ươm mầm ý tưởng nghiên cứu của học sinh và tạo điều kiện để các em phát triển sản phẩm. Tại cuộc thi khoa học kỹ thuật dành cho học sinh THCS quận Thanh Khê năm học 2024-2025, trường có 2 dự án đoạt giải Nhất và được lựa chọn dự thi cấp thành phố.

Tinh thần ấy tiếp tục được thể hiện qua các hoạt động STEM và chuyển đổi số. Tại Ngày hội “Thanh Khê số - Kết nối tương lai số” tháng 9-2026, học sinh nhà trường giới thiệu các sản phẩm, học liệu gắn kiến thức với thực tiễn. Điều đáng chú ý không chỉ là sản phẩm cuối cùng, mà là sự thay đổi vai trò của người học: từ tiếp nhận kiến thức sang vận dụng kiến thức để sáng tạo và giải quyết vấn đề.

ST9

Hoạt động STEM/chuyển đổi số của học sinh Trường THCS Huỳnh Thúc Kháng - Nguồn: Thanh Khê Ngày Mới/Cổng TTĐT phường Thanh Khê

61 đảng viên - 61 vị trí trách nhiệm

Đổi mới trong một nhà trường không thể là công việc của riêng người đứng đầu. Với Chi bộ Trường THCS Huỳnh Thúc Kháng, 61 đảng viên là 61 vị trí trách nhiệm. Người đứng lớp đổi mới từ bài giảng; người làm chuyên môn nâng cao chất lượng chuyên môn; người phụ trách công nghệ thúc đẩy chuyển đổi số; người làm công tác Đoàn - Đội tạo môi trường để học sinh trải nghiệm và trưởng thành.

Bởi vậy, vai trò lãnh đạo của Chi bộ không tách khỏi nhiệm vụ chuyên môn mà được thể hiện bằng chất lượng thực hiện nhiệm vụ hằng ngày. Khi mỗi đảng viên làm tốt phần việc của mình, những chủ trương lớn mới có thể chuyển thành những thay đổi cụ thể mà giáo viên, học sinh và phụ huynh cảm nhận được.

Screenshot 2026 10 02 171030

Cán bộ, giáo viên và học sinh trong một hoạt động giáo dục của nhà trường - Nguồn: Thanh Khê Ngày Mới/Cổng TTĐT phường Thanh Khê

Khi nghị quyết hiện diện trong từng việc làm

Đưa nghị quyết vào cuộc sống là một hành trình lâu dài. Ở trường học, hành trình ấy có thể bắt đầu từ một tiết học được đổi mới, một ý tưởng của học sinh được lắng nghe, một sản phẩm công nghệ được hình thành, một học sinh khó khăn được tiếp sức hay một câu chuyện lịch sử được kể theo cách khiến thế hệ trẻ muốn tìm hiểu và tiếp nối.

Screenshot 2026 10 02 171114

Dưới mái trường mang tên Huỳnh Thúc Kháng, truyền thống và đổi mới đang gặp nhau trong cùng một mục tiêu: giáo dục con người. Khi mỗi đảng viên tiên phong từ chính vị trí của mình, khi chủ trương được chuyển thành việc làm cụ thể và những việc làm ấy tạo ra sự thay đổi trong lớp học, nghị quyết sẽ không còn chỉ nằm trên trang giấy. Nghị quyết hiện diện trong sự chuyển động của nhà trường, trong trách nhiệm của người thầy và trong sự trưởng thành của mỗi học sinh.

Nguồn đối chiếu chính: Báo Đà Nẵng, “Kể chuyện Huỳnh Thúc Kháng dưới mái trường mang tên cụ”, 29-9-2026; Cổng thông tin điện tử phường Thanh Khê; trang Thanh Khê Ngày Mới.


BÀI DỰ THI GIẢI BÁO CHÍ VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG (GIẢI BÚA LIỀM VÀNG) THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG NĂM 2026

Tác giả: Lâm Bích Phương

Đơn vị: Trường THCS Huỳnh Thúc Kháng

GIỮ VỮNG “TRẬN ĐỊA TƯ TƯỞNG” TỪ MỖI BỤC GIẢNG

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG NHÀ TRƯỜNG TRƯỚC THÁCH THỨC CỦA KHÔNG GIAN SỐ

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên số, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ diễn ra trên các diễn đàn lý luận hay phương tiện truyền thông, mà hiện diện ngay trong từng chiếc điện thoại, từng dòng tin và từng lựa chọn thông tin của học sinh. Với người giáo viên, bảo vệ nền tảng tư tưởng không phải là những lời nói lớn lao, mà trước hết là dạy học sinh biết phân biệt đúng – sai, thật – giả, biết yêu lịch sử dân tộc, có bản lĩnh trước thông tin xuyên tạc và có trách nhiệm khi tham gia không gian mạng. Từ bục giảng, mỗi bài học đúng đắn, thuyết phục và giàu tính nhân văn có thể trở thành một “lá chắn mềm” bền vững trong xây dựng thế trận lòng dân từ thế hệ trẻ.

Có một sự thật không thể xem nhẹ: nếu trước đây thông tin sai lệch cần thời gian để phát tán, thì hôm nay một video cắt ghép, một hình ảnh giả, một câu trích dẫn bị bóp méo có thể đến với hàng nghìn người chỉ sau vài phút. Học sinh trung học cơ sở – lứa tuổi đang hình thành thế giới quan, nhân sinh quan và năng lực tự đánh giá – vừa là những “công dân số” năng động, vừa là nhóm dễ bị tác động bởi nội dung giật gân, cực đoan, thiếu kiểm chứng. Vì thế, giữ vững nền tảng tư tưởng trong nhà trường không thể chỉ dừng ở việc truyền đạt kiến thức. Đó phải là quá trình bồi dưỡng niềm tin trên cơ sở hiểu biết, xây dựng năng lực phản biện trên nền tảng sự thật và hình thành sức đề kháng trước thông tin độc hại.

Đặt vấn đề như vậy không phải để biến lớp học thành nơi áp đặt suy nghĩ. Ngược lại, một nền giáo dục có trách nhiệm phải giúp học sinh biết đặt câu hỏi, biết tìm nguồn, biết đối chiếu chứng cứ và biết tranh luận bằng lý lẽ. Chính năng lực tư duy độc lập, khi được đặt trên nền tảng tri thức lịch sử, pháp luật, đạo đức và lòng yêu nước, mới là cơ sở vững chắc để các em không bị dẫn dắt bởi những thông tin xuyên tạc, kích động hoặc cố tình đánh tráo khái niệm.

1. Nền tảng tư tưởng của Đảng – điểm tựa lý luận và thực tiễn của cách mạng Việt Nam

Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam. Giá trị của nền tảng ấy không nằm ở những công thức bất biến, mà ở bản chất khoa học, cách mạng và phương pháp luận để nhận thức, giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhận chủ nghĩa Mác – Lênin từ yêu cầu giải phóng dân tộc, đồng thời luôn nhấn mạnh tinh thần vận dụng sáng tạo, chống giáo điều, máy móc.

Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy sức sống của một hệ tư tưởng được kiểm chứng không chỉ bằng lập luận, mà bằng khả năng soi đường cho hành động và giải quyết những nhiệm vụ cụ thể của dân tộc. Từ đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước đến công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bài học xuyên suốt là kiên định mục tiêu nhưng không ngừng đổi mới phương thức; giữ vững nguyên tắc nhưng phải xuất phát từ thực tiễn Việt Nam.

Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu ấy càng rõ. Kế hoạch tổ chức Giải Búa liềm vàng thành phố Đà Nẵng năm 2026 đặt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong mối liên hệ trực tiếp với đổi mới phương thức lãnh đạo, chuyển đổi số, khoa học – công nghệ, xây dựng chính quyền phục vụ Nhân dân và củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân. Điều đó cho thấy bảo vệ nền tảng tư tưởng không phải là “đóng khung” nhận thức, mà phải gắn lý luận với năng lực giải quyết những vấn đề mới của thực tiễn.

2. Không gian số: mặt trận mới, thủ đoạn mới và yêu cầu nhận diện mới

Không gian mạng làm thay đổi sâu sắc cách con người tiếp nhận và chia sẻ thông tin. Thuật toán ưu tiên nội dung gây chú ý; trí tuệ nhân tạo có thể tạo văn bản, hình ảnh, giọng nói và video có độ chân thực cao; thông tin đúng và sai cùng tồn tại trong một dòng chảy gần như không có “cổng kiểm soát” tự nhiên. Trong môi trường ấy, một luận điệu xuyên tạc không nhất thiết xuất hiện dưới dạng khẩu hiệu đối đầu trực diện. Nó có thể núp dưới một câu chuyện tưởng như vô hại, một hình ảnh thiếu bối cảnh, một đoạn video bị cắt khỏi tổng thể, hay một tài khoản mạo danh nguồn tin có thẩm quyền.

Có thể nhận diện một số dạng thức thường gặp. Thứ nhất, cắt xén lịch sử, tách sự kiện khỏi hoàn cảnh để phủ nhận thành quả cách mạng hoặc hạ thấp giá trị của độc lập dân tộc. Thứ hai, tuyệt đối hóa những hạn chế, khuyết điểm riêng lẻ rồi quy kết thành bản chất của cả hệ thống. Thứ ba, cố tình đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lênin, từ đó phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Thứ tư, lợi dụng những vấn đề xã hội đang được quan tâm để kích động tâm lý hoài nghi, cực đoan, phủ nhận sạch trơn. Thứ năm, sử dụng công nghệ mới để tạo nội dung giả, mạo danh hoặc làm sai lệch phát ngôn, khiến người tiếp nhận khó phân biệt thật – giả nếu chỉ nhìn lướt qua.

Điểm đáng lo không chỉ là sự tồn tại của thông tin xấu, độc, mà là tốc độ và cách thức nó tác động đến cảm xúc. Nội dung càng gây phẫn nộ, sợ hãi hoặc tò mò càng dễ được chia sẻ trước khi người dùng kịp kiểm chứng. Vì vậy, nếu chỉ phản bác sau khi thông tin sai đã lan rộng thì luôn ở thế bị động. Muốn bảo vệ nền tảng tư tưởng hiệu quả phải chuyển mạnh từ “xử lý thông tin sai” sang “xây dựng năng lực miễn dịch thông tin” cho mỗi công dân, nhất là thế hệ trẻ.

3. Nhà trường không đứng ngoài “trận địa tư tưởng”

Với học sinh THCS, niềm tin không hình thành bền vững từ những mệnh đề có sẵn. Các em cần được thuyết phục bằng sự thật, bằng trải nghiệm, bằng những tấm gương cụ thể và bằng cách ứng xử nhất quán của người lớn. Bởi vậy, nhà trường là môi trường đặc biệt quan trọng: vừa truyền thụ tri thức, vừa hình thành phương pháp tư duy, phẩm chất công dân và văn hóa ứng xử.

Ở đây, vai trò của người đảng viên – giáo viên có ý nghĩa trực tiếp. Tính tiên phong không chỉ thể hiện ở việc hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn, mà còn ở sự chuẩn mực trong phát ngôn, thái độ với thông tin chưa kiểm chứng, tinh thần trách nhiệm trước học sinh và khả năng giải thích những vấn đề phức tạp bằng ngôn ngữ phù hợp lứa tuổi. Người thầy muốn học sinh tin vào điều đúng trước hết phải là người tôn trọng sự thật, biết lắng nghe và dám sửa khi mình chưa chính xác.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng trong trường học vì vậy không đồng nghĩa với đưa những cuộc tranh luận chính trị phức tạp vào lớp học một cách khiên cưỡng. Cốt lõi là làm cho học sinh có nền tảng để tự đứng vững: hiểu lịch sử dân tộc, trân trọng giá trị hòa bình và độc lập; có ý thức thượng tôn pháp luật; biết trách nhiệm với cộng đồng; có kỹ năng số; biết kiểm chứng thông tin và không tiếp tay cho tin giả. Khi những năng lực đó trở thành thói quen, học sinh sẽ ít bị thao túng bởi những thông điệp cực đoan hoặc xuyên tạc.

4. Từ “truyền đạt” sang “tạo sức đề kháng”: năm việc nhà trường có thể làm ngay

Một là, đưa kỹ năng kiểm chứng thông tin thành năng lực xuyên môn.

Không nên coi kỹ năng nhận diện tin giả chỉ là nhiệm vụ của một môn học. Trong Ngữ văn, học sinh có thể phân biệt sự kiện với ý kiến, nhận diện ngôn ngữ định kiến và thủ pháp đánh vào cảm xúc. Trong Lịch sử và Địa lý, các em học cách đối chiếu nguồn, đặt sự kiện trong bối cảnh. Trong Tin học, các em hiểu dấu vết số, quyền riêng tư, cơ chế lan truyền nội dung và rủi ro của nội dung do AI tạo ra. Trong Giáo dục công dân, các em gắn quyền tự do biểu đạt với trách nhiệm pháp lý và đạo đức. Khi nhiều môn học cùng rèn một năng lực, “kiểm chứng trước khi chia sẻ” mới có cơ hội trở thành phản xạ.

Hai là, dạy học sinh một quy trình ngắn để tự bảo vệ mình trước thông tin đáng ngờ.

Có thể hình thành thói quen “Dừng – Kiểm – Đối chiếu – Chịu trách nhiệm”: dừng lại trước nội dung gây sốc; kiểm tra ai là người đăng và nguồn gốc ở đâu; đối chiếu với nguồn chính thống hoặc nhiều nguồn độc lập đáng tin cậy; cuối cùng tự hỏi việc chia sẻ có gây hại cho người khác hay vi phạm pháp luật không. Một quy trình đơn giản, được lặp lại thường xuyên, có giá trị thực tế hơn nhiều lời cảnh báo chung chung.

Ba là, biến giáo dục lịch sử, truyền thống và học tập theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thành trải nghiệm có chiều sâu.

Học sinh dễ nhớ một câu chuyện có nhân vật, chứng cứ và cảm xúc hơn một chuỗi khẩu hiệu. Nhà trường có thể khai thác tư liệu địa phương, nhân chứng, bảo tàng, di tích, sản phẩm số, dự án học tập hoặc hoạt động câu lạc bộ để học sinh tự tìm hiểu và kể lại lịch sử bằng ngôn ngữ của mình. Khi các em chủ động khám phá, lịch sử không còn là kiến thức “phải nhớ”, mà trở thành một phần của căn tính và lòng tự hào.

Bốn là, xây dựng “văn hóa đối thoại” trong nhà trường.

Không gian mạng hấp dẫn người trẻ một phần vì họ có cảm giác được nói và được phản hồi. Nếu nhà trường chỉ yêu cầu học sinh nghe mà không tạo cơ hội đặt câu hỏi, khoảng trống đối thoại sẽ dễ bị lấp bởi những nguồn thông tin thiếu tin cậy. Giáo viên cần khuyến khích học sinh nêu băn khoăn, kể cả những câu hỏi khó, rồi cùng các em tìm bằng chứng để trả lời. Đối thoại có nguyên tắc không làm suy yếu định hướng giáo dục; trái lại, nó làm cho niềm tin được xây dựng trên hiểu biết thay vì tâm lý phục tùng.

Năm là, nâng năng lực số và trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, giáo viên.

Không thể yêu cầu học sinh thận trọng trên mạng nếu người lớn tùy tiện chia sẻ thông tin chưa kiểm chứng. Mỗi cán bộ, giáo viên cần biết xác minh nguồn, bảo vệ dữ liệu cá nhân, nhận diện dấu hiệu nội dung do AI tạo ra, tôn trọng bản quyền và sử dụng mạng xã hội đúng chuẩn mực. Đối với đảng viên, đây còn là trách nhiệm giữ gìn uy tín của tổ chức bằng chính hành vi hằng ngày: nói có căn cứ, làm có trách nhiệm, phản bác có văn hóa và tuyệt đối không dùng thông tin sai để chống lại thông tin sai.

5. Muốn “chống” có sức thuyết phục, phải làm tốt phần “xây”

Một bài viết phản bác có thể bác bỏ một luận điệu. Nhưng một môi trường giáo dục tốt có thể làm giảm đất sống của rất nhiều luận điệu sai trái. Đây chính là ý nghĩa của phương châm kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, chiến lược, lâu dài. “Xây” là xây tri thức đúng; xây đạo đức và kỷ cương; xây niềm tin bằng hiệu quả công việc; xây văn hóa ứng xử; xây mối quan hệ tôn trọng giữa nhà trường – gia đình – học sinh; xây khả năng tự học và tự kiểm chứng.

Thực tiễn cũng nhắc chúng ta rằng những hạn chế, tiêu cực nếu không được nhìn nhận và khắc phục nghiêm túc có thể trở thành chất liệu để thông tin xuyên tạc lợi dụng. Vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng không thể tách rời xây dựng, chỉnh đốn Đảng; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương; nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân. Sức thuyết phục mạnh nhất không chỉ đến từ lời nói, mà từ kết quả thực tế và sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên.

Trong nhà trường cũng vậy. Một bài giảng về trách nhiệm sẽ thiếu sức nặng nếu người thầy thiếu trách nhiệm; một bài học về trung thực khó thuyết phục nếu đánh giá thiếu công bằng; lời kêu gọi tôn trọng pháp luật sẽ trở nên hình thức nếu chính người lớn dễ dãi với quy định. Bởi vậy, mỗi đảng viên trong trường học phải coi nêu gương là phương thức giáo dục có sức lan tỏa sâu nhất.

6. AI và bài toán mới của bảo vệ nền tảng tư tưởng trong giáo dục

Trí tuệ nhân tạo mở ra cơ hội lớn cho dạy học, nhưng cũng làm cho ranh giới thật – giả trở nên mong manh hơn. Một học sinh hôm nay có thể nhận được trong vài giây một bài viết nghe rất thuyết phục nhưng chứa dữ kiện bịa đặt; một hình ảnh lịch sử có thể được tạo mới; một giọng nói có thể bị mô phỏng. Vì thế, kỹ năng “biết dùng AI” chưa đủ. Điều quan trọng hơn là biết kiểm tra sản phẩm do AI tạo ra, truy nguyên nguồn, nhận diện giới hạn và chịu trách nhiệm với nội dung mình sử dụng.

Nhà trường cần thống nhất nguyên tắc: AI là công cụ hỗ trợ, không phải nguồn chân lý; nội dung quan trọng phải được đối chiếu với tài liệu đáng tin cậy; không dùng AI để tạo dựng nhân vật, sự kiện, bằng chứng không có thật; không dùng công nghệ để xúc phạm, mạo danh hoặc làm tổn hại người khác. Đây vừa là giáo dục năng lực số, vừa là giáo dục đạo đức công dân trong môi trường mới.

Đáng chú ý, Thể lệ Giải Búa liềm vàng thành phố năm 2026 cũng yêu cầu tác phẩm có sử dụng AI phải minh bạch mức độ sử dụng và không được dùng AI làm sai lệch nội dung, hình ảnh, âm thanh hoặc tạo dựng nhân vật, sự kiện không có thật. Chính yêu cầu này gợi một chuẩn mực rộng hơn cho giáo dục: công nghệ càng mạnh thì trách nhiệm với sự thật càng phải cao.

7. Bảo vệ nền tảng tư tưởng bắt đầu từ những việc bình dị nhưng không nhỏ

Đối với một giáo viên, “mặt trận” ấy có thể bắt đầu từ việc dành thêm vài phút để chỉ cho học sinh cách kiểm tra một bức ảnh; từ việc không vội chia sẻ một thông tin chưa rõ nguồn; từ một tiết học lịch sử được chuẩn bị bằng tư liệu xác thực; từ cách bình tĩnh giải thích khi học sinh nêu câu hỏi trái chiều; từ việc bảo vệ một học sinh trước hành vi bắt nạt trên mạng; hay từ chính sự gương mẫu trong lời nói và hành động.

Những việc đó không ồn ào, nhưng tích lũy thành niềm tin. Và niềm tin bền vững không thể được yêu cầu bằng mệnh lệnh; nó phải được tạo dựng bằng sự thật, công bằng, trách nhiệm và hiệu quả. Khi học sinh hiểu vì sao một giá trị đáng được bảo vệ, các em sẽ có khả năng tự bảo vệ giá trị ấy ngay cả khi không có thầy cô bên cạnh.

Kết luận: Mỗi bục giảng là một điểm tựa của “thế trận lòng dân”

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới là nhiệm vụ lâu dài, thường xuyên, nhưng không xa rời đời sống. Trong nhà trường, nhiệm vụ ấy hiện hữu trong chất lượng mỗi bài giảng, trong cách người thầy bảo vệ sự thật, trong năng lực số của học sinh và trong văn hóa đối thoại được vun đắp từng ngày.

Trước dòng chảy thông tin ngày càng nhanh và công nghệ ngày càng có khả năng tạo ra những “sự thật giả”, cách phòng vệ bền vững nhất không phải là dựng một bức tường ngăn học sinh với thế giới, mà là trao cho các em chiếc la bàn để đi trong thế giới ấy: tri thức, bản lĩnh, lòng yêu nước, tư duy phản biện, đạo đức và trách nhiệm công dân.

Từ bục giảng, người giáo viên – đảng viên có thể góp phần làm điều đó bằng một nguyên tắc giản dị: lấy cái đúng để thuyết phục, lấy cái tốt để lan tỏa, lấy sự gương mẫu để giáo dục và lấy hiệu quả thực tiễn để củng cố niềm tin. Khi mỗi lớp học trở thành một không gian của tri thức, sự thật và trách nhiệm, “thế trận lòng dân” sẽ được bồi đắp từ gốc – từ chính thế hệ sẽ làm chủ tương lai đất nước.


 



BÀI DỰ THI GIẢI BÁO CHÍ VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG (GIẢI BÚA LIỀM VÀNG) THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG NĂM 2026

Thông tin về tác giả/nhóm tác giả

- Tên tác giả:          LƯƠNG ĐOAN PHƯƠNG

- Năm sinh:            1996

- Chức danh:          Giáo viên

- Đơn vị công tác: Trường THCS Huỳnh Thúc Kháng

GIEO HẠT GIỐNG ĐỎ DƯỚI MÁI TRƯỜNG

MANG TÊN CỤ HUỲNH THÚC KHÁNG

TÓM TẮT

  1. HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA TÁC PHẨM

- Bối cảnh lịch sử và thực tiễn: Tác phẩm được khởi thảo và hoàn thành trong thời điểm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng — mùa thu năm 2026, khi toàn Đảng bộ thành phố Đà Nẵng nói chung và Đảng bộ phường Thanh Khê nói riêng đang tích cực triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2025–2030, gắn liền với đề án Chuyển đổi số toàn diện và Xây dựng Đô thị thông minh.

- Mốc sự kiện đặc biệt (01/10/2026): Tác phẩm ra đời ngay đúng dịp kỷ niệm 150 năm Ngày sinh Cụ Huỳnh Thúc Kháng (01/10/1876 – 01/10/2026) — vị chí sĩ yêu nước, Quyền Chủ tịch nước kiên trung mà nhà trường vinh dự mang tên. Sự kiện lễ dâng hương, chương trình sân khấu hóa lịch sử cùng Tuần lễ thi đua "Dạy tốt - Học tốt" tại trường THCS Huỳnh Thúc Kháng đã trở thành nguồn cảm hứng trực tiếp để tác giả ghi lại những chuyển biến thực tế trong công tác xây dựng Đảng tại đơn vị.

- Động lực cá nhân & vai trò đảng viên: Xuất phát từ thực tiễn công tác giảng dạy của một giáo viên, tác giả mong muốn đúc kết những mô hình hay, cách làm mới trong việc đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống học đường, biến các chỉ thị khô khan thành những tiết học sinh động, sản phẩm thiết kế số thân thiện và chuỗi hoạt động rèn luyện nhân cách thực chất cho học sinh lứa tuổi trung học cơ sở.

  1. NỘI DUNG CHÍNH CỦA TÁC PHẨM

Tác phẩm được cấu trúc chặt chẽ gồm 4 phần chính, làm nổi bật vai trò hạt nhân lãnh đạo của Chi bộ Đảng trong trường học:

- Phần 1 – Tiên phong trên mặt trận Giáo dục số: Phản ánh tinh thần đổi mới của lực lượng giáo viên - đảng viên (đặc biệt là Tổ Tiếng Anh) trong việc chủ động ứng dụng công nghệ hiện đại (Canva, CapCut, AI Presenter) và tự tay sáng tạo tài liệu học tập (sổ tay, nhãn vở line-art) nhằm khơi dậy tính tự giác, tư duy quản lý thời gian và niềm yêu thích học tập cho học sinh.

- Phần 2 – "Sân khấu hóa" và bài học nhân văn: Khắc họa mô hình đưa nghệ thuật vào giáo dục đạo đức, tiêu biểu là việc dàn dựng vở kịch "Vết sẹo không nhìn thấy". Tác phẩm cho thấy cách người thầy dùng sự đồng cảm, lắng nghe để chữa lành tâm lý tuổi mới lớn, xây dựng văn hóa ứng xử tử tế trong học đường.

- Phần 3 – Đốt sáng nguồn cội (Dấu ấn Kỷ niệm 150 năm Ngày sinh Cụ Huỳnh): Ghi chép sinh động không khí trang nghiêm của Lễ dâng hương, tính hấp dẫn của hoạt cảnh sân khấu hóa tái hiện cuộc đời Cụ Huỳnh, cùng khí thế thi đua học tập sôi nổi xuyên suốt tuần lễ kỷ niệm 01/10/2026 tại nhà trường.

- Phần 4 – Từ hạt giống đỏ đến Ngôi trường hạnh phúc: Khẳng định công tác phát triển Đảng và nâng cao chất lượng đảng viên phải gắn liền với hiệu quả giảng dạy thực tế, lòng tận tụy với học sinh và việc xây dựng môi trường giáo dục hạnh phúc.

 

  1. GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT VÀ TƯ TƯỞNG

3.1. Giá trị tư tưởng - chính trị:

- Tác phẩm khẳng định một luận điểm cốt lõi: Công tác xây dựng Đảng trong trường học không hề mang tính hình thức, khô cứng hay xa rời thực tế, mà chính là kim chỉ nam nâng cao chất lượng giáo dục và bồi đắp nhân cách thế hệ trẻ.

- Thể hiện sâu sắc tinh thần uống nước nhớ nguồn, tiếp nối truyền thống hiếu học và chí khí cách mạng của Cụ Huỳnh Thúc Kháng trong kỷ niệm 150 năm ngày sinh của Cụ.

3.2. Giá trị thực tiễn & nghệ thuật thể hiện:

- Tính chân thực & hơi thở cuộc sống: Bài viết sử dụng ngôn ngữ báo chí chính luận kết hợp ghi chép thực tiễn sinh động, giàu hình ảnh và cảm xúc từ chính góc nhìn của người trong cuộc.

- Trực quan & hiện đại: Tác phẩm kết hợp sơ đồ tư duy minh họa (Infographic sơ đồ khối) giúp hệ thống hóa mô hình lãnh đạo của Chi bộ, đáp ứng đúng chuẩn mực trình bày của loại hình Báo điện tử modern journalism.

  1. SỨC LAN TỎA VÀ Ý NGHĨA XÃ HỘI

- Lan tỏa trong khối Giáo dục & Tổ chức Đảng: Tác phẩm gợi mở một mô hình "Chi bộ bốn tốt" thực chất trong nhà trường: Đảng viên đi đầu đổi mới phương pháp – Tập thể đoàn kết sáng tạo – Học sinh chăm ngoan, tự giác – Môi trường học đường hạnh phúc. Đây là tài liệu tham khảo thực tiễn có giá trị nhân rộng cho các chi bộ trường học trên địa bàn quận Thanh Khê và TP. Đà Nẵng.

- Kết nối Gia đình – Nhà trường – Xã hội: Bài viết lan tỏa hình ảnh đẹp về người thầy giáo - đảng viên thời đại mới: không chỉ giỏi chuyên môn, thành thạo công nghệ số mà còn giàu lòng nhân ái, mẫn cảm với tâm lý học trò.

- Truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ: Chuỗi hoạt động kỷ niệm 150 năm Ngày sinh Cụ Huỳnh và phong trào thi đua học tập được phản ánh trong bài viết đã trực tiếp khơi dậy lòng tự hào quê hương Thanh Khê - Đà Nẵng, biến niềm tôn kính lịch sử thành hành động thi đua rèn luyện thiết thực mỗi ngày của học sinh.

MỞ ĐẦU: SỨ MỆNH KẾ THỪA TRÊN VÙNG ĐẤT HỌC

Mang tên vị chí sĩ yêu nước, Quyền Chủ tịch nước kiên trung Huỳnh Thúc Kháng, ngôi trường THCS Huỳnh Thúc Kháng tại phường Thanh Khê từ lâu đã trở thành điểm sáng của ngành giáo dục quận Thanh Khê nói riêng và thành phố Đà Nẵng nói chung. Nằm ở tâm điểm của một đô thị năng động, giàu truyền thống hiếu học, nhà trường không chỉ gánh vác trách nhiệm truyền thụ tri thức mà còn mang sứ mệnh luyện rèn nhân cách, bồi đắp bản lĩnh cho thế hệ trẻ — những công dân tương lai của một đô thị thông minh, hiện đại.

Trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025–2030, câu hỏi đặt ra cho Chi bộ Trường THCS Huỳnh Thúc Kháng là: Làm sao để vai trò lãnh đạo của Đảng không dừng lại ở những nghị quyết trên giấy, mà phải thẩm thấu vào từng giờ giảng, từng nét vẽ, từng phương pháp giáo dục số và nếp sống văn minh của học sinh mỗi ngày?

PHẦN 1: TỰ ĐỔI MỚI BẢN THÂN – ĐẢNG VIÊN TIÊN PHONG TRÊN MẶT TRẬN GIÁO DỤC SỐ

Thực hiện định hướng chuyển đổi số toàn diện và xây dựng chính quyền số của Đảng bộ thành phố Đà Nẵng, Chi bộ Trường THCS Huỳnh Thúc Kháng xác định: Muốn học sinh sáng tạo, thầy cô phải là những người dẫn đường bứt phá.

Tại các tổ chuyên môn, đặc biệt là Tổ Tiếng Anh, các đảng viên trẻ, giáo viên trẻ đã chủ động đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào giảng dạy. Không còn những bài giảng lối cũ, giáo viên nhà trường đã áp dụng linh hoạt các nền tảng thiết kế số như Canva, công nghệ biên tập nội dung CapCut và các ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI Presenter) để biến mỗi tiết học thành một không gian tương tác đa chiều. Những bài học lịch sử địa phương, văn hóa giao tiếp và ngoại ngữ được hình ảnh hóa sinh động, giúp học sinh tiếp thu tự nhiên.

Tiêu biểu cho tinh thần đổi mới sáng tạo ấy là chuỗi dự án học tập ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) được triển khai đồng bộ cho học sinh các khối lớp. Ở khối 6, cô giáo đã hướng dẫn các em học sinh bỡ ngỡ bước vào môi trường mới thực hiện dự án thiết kế Poster "My new school". Bằng việc kết hợp công nghệ AI hỗ trợ gợi ý ý tưởng hình ảnh và bố cục, những trang vẽ về ngôi trường THCS Huỳnh Thúc Kháng hiện lên ngập tràn sắc màu, giúp các em thêm yêu và tự hào về ngôi trường mới.

Screenshot 2026 10 01 150554

Trong khi đó, ở khối 8, dự án thiết kế sơ đồ tư duy "Leisure time" ứng dụng AI lại trở thành không gian để học sinh thỏa sức hệ thống hóa từ vựng, diễn đạt sở thích cá nhân và định hình nếp sống giải trí lành mạnh. Công nghệ AI không làm thay con người, mà dưới sự định hướng của người thầy, AI đã trở thành trợ thủ đắc lực giúp học sinh phát triển tư duy logic, thẩm mỹ và năng lực ngoại ngữ một cách chủ động.

Screenshot 2026 10 01 150659

Đặc biệt, tư duy đổi mới nghệ thuật học đường còn ghi dấu ấn bằng sự kết hợp độc đáo giữa âm nhạc và công nghệ hiện đại. Nhằm khơi dậy niềm tự hào cho các thế hệ học trò, cô giáo Lương Đoan Phương đã chủ động sáng tác ca khúc truyền thống mang tên "Trường Huỳnh Thúc Kháng - Nơi tuổi xanh lung linh" với sự hỗ trợ đắc lực từ người "trợ lý AI". Sự giao thoa giữa cảm xúc chân thành của người thầy đảng viên và trí tuệ nhân tạo đã tạo nên những giai điệu bay bổng, hào hùng, nhanh chóng trở thành bài hát quen thuộc trong các giờ sinh hoạt truyền thống, tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho học sinh dưới mái trường thân yêu.

Minh chứng rõ nét nhất cho tinh thần tiên phong, sáng tạo ấy chính là quả ngọt ở các sân chơi chuyên môn lớn. Tận dụng tối đa sức mạnh của công nghệ số và tư duy đổi mới bài giảng, giáo viên nhà trường đã xuất sắc đạt Giải Ba cấp Quốc gia trong "Cuộc thi Thiết kế bài giảng điện tử Phòng chống tác hại của thuốc lá, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng năm 2025". Tác phẩm đoạt giải không chỉ thể hiện năng lực ứng dụng công nghệ thông tin vượt trội, kịch bản sư phạm tương tác cuốn hút mà còn giải quyết trực diện một vấn đề nhức nhối trong học đường hiện nay. Việc đưa kiến thức phòng chống thuốc lá điện tử vào bài giảng E-learning một cách tinh tế, sinh động đã giúp học sinh tự xây dựng "màng lọc" đề kháng, chủ động bảo vệ bản thân và bạn bè trước các tệ nạn học đường.

Bên cạnh đó, việc đổi mới phương pháp giáo dục còn được cụ thể hóa qua những sản phẩm giáo dục trực quan mang tính sáng tạo cao. Bằng việc tự tay thiết kế các mẫu sổ tay, kế hoạch học tập cá nhân và nhãn vở dưới dạng tranh line-art để học sinh tự tô màu và quản lý thời gian, đội ngũ giáo viên đã biến việc rèn luyện tính tự giác của học sinh thành một trải nghiệm nghệ thuật gần gũi. Đó chính là sự kết hợp hài hòa giữa công nghệ hiện đại và tư duy giáo dục nhân văn — nơi sức sáng tạo của người thầy đảng viên trở thành mồi lửa khơi dậy niềm đam mê học tập của học trò.Tăng cường năng lực ngoại ngữ.              

PHẦN 2: "SÂN KHẤU HÓA" VÀ BÀI HỌC NHÂN VĂN – DÙNG NGHỆ THUẬT RÈN DỮA TÂM HỒN

Giáo dục nhân cách cho lứa tuổi trung học cơ sở chưa bao giờ là bài toán dễ dàng nếu chỉ dùng những lời giáo huấn suông. Nhận thức rõ điều đó, Chi bộ nhà trường đã chỉ đạo Công đoàn và Đoàn - Đội đẩy mạnh mô hình "Sân khấu hóa học đường" — đưa văn học, lịch sử và kỹ năng sống vào các vở kịch, hoạt động ngoại khóa.

Điển hình là vở kịch nói "Vết sẹo không nhìn thấy" do chính đội ngũ giáo viên và học sinh nhà trường dàn dựng. Tác phẩm không chỉ là một bài tập kỹ năng sân khấu mà là một chiến dịch truyền thông nội bộ sâu sắc về tình bạn, sự tôn trọng và cách ứng xử văn minh trong môi trường học đường.

Screenshot 2026 10 01 151021

Từ khâu kịch bản, khớp nối âm thanh, ánh sáng đến việc phân vai, các thầy cô giáo là những người đồng hành, lắng nghe tâm tư của các em. Những "vết sẹo" trong tâm lý tuổi mới lớn được nhận diện và chữa lành bằng sự cảm thông. Qua từng ánh đèn sân khấu, từng lời thoại, học sinh THCS Huỳnh Thúc Kháng không chỉ được giáo dục về kỹ năng sống mà còn thấm nhuần giá trị của sự tử tế — nền tảng cốt lõi của những công dân văn minh trong một Đà Nẵng đáng sống.

PHẦN 3: ĐỐT SÁNG NGUỒN CỘI – THỜI DIỂM LỊCH SỬ VÀ TUẦN LỄ THI ĐƯA "HỌC TỐT" LÊN MỞ CỤ HUỲNH (01/10/1876 – 01/10/2026)

Hướng tới mốc son đặc biệt: Kỷ niệm 150 năm Ngày sinh Cụ Huỳnh Thúc Kháng (01/10/1876 – 01/10/2026), dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chi bộ và Ban Giám hiệu, không khí thi đua sôi nổi đã lan tỏa khắp các lớp học và các tổ chuyên môn.

Đỉnh cao của chuỗi hoạt động là Lễ kỷ niệm trang nghiêm và Lễ dâng hương tri ân vị Cụ Bảng học rộng tài cao ngay tại khuôn viên nhà trường. Chương trình "Sân khấu hóa lịch sử" đã tái hiện lại cuộc đời, sự nghiệp báo chí (báo Tiếng Dân) và tư tưởng canh tân giáo dục của Cụ Huỳnh Thúc Kháng. Những thước phim tư liệu kết hợp hoạt cảnh sân khấu hóa do chính giáo viên và học sinh thể hiện đã mang lại niềm xúc động sâu sắc, biến bài học lịch sử khô khan thành niềm tự hào tự nhiên của mỗi học sinh mang trên vai chiếc khăn quàng đỏ.

Nối tiếp hoạt cảnh, trong không gian thiêng liêng ấy, Ban giám hiệu nhà trường, đại biểu, đại diện giáo viên và học sinh đã cùng dâng lên nén hương thơm kính cẩn nghiêng mình trước chí khí "Góc biển chân trời không đổi chí" của Cụ.

Cùng với lễ kỷ niệm, tuần lễ thi đua "Dạy tốt - Học tốt" chào mừng 150 năm Ngày sinh Cụ Huỳnh đã trở thành một cao điểm chuyên môn của toàn trường. Hàng trăm bông hoa điểm 10, những tiết học tốt ứng dụng công nghệ số và những nền nếp tự quản được các em học sinh thi đua thực hiện như một món quà ý nghĩa nhất dâng lên ngôi trường mang tên Cụ.

PHẦN 4: TỪ NHỮNG HẠT GIỐNG ĐỎ ĐẾN NGÔI TRƯỜNG HẠNH PHÚC.

Xây dựng tổ chức Đảng vững mạnh trong trường học bắt đầu từ chính sự vun trồng từng "hạt giống đỏ". Dưới sự lãnh đạo của Chi ủy, Chi bộ Trường THCS Huỳnh Thúc Kháng luôn xác định: Người gieo hạt phải là người tin vào hạt giống. Công tác phát triển đảng viên không tiến hành một cách hình thức mà gắn chặt với thử thách chuyên môn và sự tận tụy với học trò.

Từ những buổi lễ kết nạp trang nghiêm đến từng tiết dạy học sinh yếu kém tiến bộ, từ những giờ hướng dẫn nghiên cứu khoa học đến chuỗi hoạt động trải nghiệm cộng đồng, hình ảnh người giáo viên - đảng viên luôn hiện diện ở những nơi khó khăn nhất.

Sức mạnh của Nghị quyết không nằm trên trang giấy mà biến thành nụ cười hạnh phúc của học sinh, sự an tâm của phụ huynh và chất lượng giáo dục ngày càng nâng cao của nhà trường. Chi bộ THCS Huỳnh Thúc Kháng đã chứng minh rằng: Một đảng viên tốt trước hết phải là một nhà giáo xuất sắc, và một ngôi trường hạnh phúc phải được xây dựng từ niềm tin và sự cống hiến không ngừng nghỉ của mỗi người thầy dưới cờ Đảng.

KẾT LUẬN: BẢN LĨNH NGƯỜI THẦY – NIỀM TIN DƯỚI CỜ ĐẢNG

Kỷ niệm 150 năm Ngày sinh Cụ Huỳnh Thúc Kháng không chỉ là một mốc son lịch sử mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về tinh thần hiếu học và trách nhiệm với quê hương, đất nước.

Mỗi tiết học đổi mới, mỗi sản phẩm truyền thông sáng tạo, mỗi vở diễn học đường đầy tính nhân văn hay từng chuỗi hoạt động thi đua thiết thực tại Trường THCS Huỳnh Thúc Kháng đều là minh chứng sống động cho tinh thần tiên phong của người giáo viên – đảng viên trên vùng đất Thanh Khê. Tự hào đứng trong hàng ngũ của Đảng dưới mái trường mang tên vị tiên sĩ yêu nước, tập thể thầy và trò THCS Huỳnh Thúc Kháng sẽ tiếp tục thắp sáng ngọn lửa nhiệt huyết, đào tạo nên thế hệ trẻ vừa "hồng" vừa "chuyên", sẵn sàng bước vào kỷ nguyên mới của đất nước.

Screenshot 2026 10 01 151115


Thông báo